|
Lá mọc thẳng từ gốc, hình tim, dài 3-6cm, rộng 2,5-4cm, cuống lá
dài có bẹ và có lông; các lá ở gốc có phiến to hơn. Cụm hoa mọc thẳng
đứng ở giữa túm lá thành xim phân đôi trên một cán dài 20-40cm; lá bắc
hẹp; hoa nhỏ màu trắng, đài có 5 răng nhỏ, tràng 5 cánh hợp thành ống
hẹp, nhị rất dài vượt ra ngoài tràng. Quả bế dẹt, có đài tồn tại.
Cây mọc hoang chỉ thấy phân bố ở một số tỉnh miền núi phía Bắc như Lào
Cai (Sapa, Bát Xát, Bắc Hà), Nghệ An (Mường Lống), Hà Giang (Đồng Văn,
Mèo Vạc). Độ cao phân bố từ 1.300-1.600m.
Bộ phận dùng làm thuốc của liên hương thảo là cả cây, nhất là rễ, chứa
tinh dầu thơm (mùi này chỉ xuất hiện khi cây chuyển từ tươi sang khô) và
những ester đặc biệt có tác dụng gọi là valepotriat. Hoạt chất này có
hàm lượng cao nhất trong liên hương thảo so với nhiều loài khác cùng chi
trên thế giới.
Theo kinh nghiệm dân gian, rễ liên hương thảo, thu hái quanh năm, phơi
hoặc sấy khô, được dùng chữa đau dạ dày do co thắt, sốt cao co giật,
nhức đầu, đau khớp, thủy thũng, kinh nguyệt không đều, đòn ngã tổn
thương, mụn nhọt và làm thuốc an thần chống lo âu, phiền muộn, bồn chồn,
hay hoảng hốt. Khi dùng, lấy 10g dược liệu thái nhỏ, sắc với 200ml nước
còn 50ml, uống làm một lần trong ngày. Hoặc tán dược liệu, rây thành
bột mịn, uống mỗi ngày 1-4g với nước ấm. Có thể ngâm dược liệu với cồn
60o với tỷ lệ 1/5 trong nhiều ngày, rồi uống mỗi ngày 2-10g hoặc nấu
thành cao mềm, mỗi ngày dùng 1-4g.
Để chữa mất ngủ, tim hồi hộp, lấy liên hương thảo 9g phối hợp với lá tai
chuột 9g, hà thủ ô 30g, lá thông 30g, thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn
100ml, uống làm 2 lần trong ngày.
Dùng ngoài, rễ liên hương thảo tươi giã nát, chữa vết thương phần mềm và
mụn nhọt.
Theo DS. Hữu Bảo - Sức Khoẻ & Đời Sống
|